Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013
Hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế
Khám sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai tại trọng điểm Sức khỏe sản xuất tỉnh Nghệ An. Ảnh: DƯƠNG NGỌC
Trong những năm qua, Việt Nam đã chũm thực hành các đích phát triển thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế đã cam kết, như giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ nít dưới năm tuổi từ 41% năm 1990 xuống còn 16,2% năm 2012 (hoàn tất mục tiêu trước kì hạn ba năm). Tỷ lệ tử vong con nít dưới năm tuổi giảm từ 59ọ năm 1990 xuống còn 23,2ọ năm 2012, tiếp cận với mục tiêu đặt ra đến năm 2015 là 19,3ọ. Tỷ lệ tử vong trẻ thơ dưới một tuổi cũng giảm mạnh từ 44,4ọ năm 1990 xuống còn 15,4ọ năm 2012 và tiếp cận đích đề ra cho năm 2015 là 14,8ọ. Tỷ số tử vong mẹ đã giảm mạnh từ 230/100 nghìn trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 69/100 nghìn trẻ đẻ sống. Đáng để ý, cùng với việc giảm mạnh các chỉ số tử vong bà mẹ, con nít trên mặt bằng chung toàn quốc, Việt Nam cũng có rất nhiều núm trong việc giảm sự chênh lệch giữa các vùng, miền về các chỉ số sức khỏe bà mẹ, trẻ thơ. Bây giờ, chênh lệch tỷ lệ tử vong trẻ thơ dưới năm tuổi giữa nông thôn và đô thị đã giảm từ 20,3ọ (năm 2001) xuống còn 14,3ọ. Nhờ những thành tựu đó, tại Hội nghị cấp cao "Kêu gọi hành động vì sự sống còn của trẻ em" tổ chức tại Hoa Kỳ năm 2012, Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế đã đánh giá Việt Nam là một trong tám nhà nước đạt tiến độ thực hành đích MDG4 về giảm tử vong trẻ mỏ; là một trong chín nhà nước đạt tiến độ thực hiện về mục tiêu MDG5 về giảm tử vong mẹ.
Để có kết quả nói trên, trong thời kì qua, ngành y tế đã cố gắng khai triển nhiều giải pháp nâng cao sức khỏe, giảm tình trạng tử vong bà mẹ - trẻ mỏ. Các giải pháp đó nhằm cải thiện môi trường chính sách trong lĩnh vực coi ngó sức khỏe bà mẹ, trẻ thơ; truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân; đào tạo năng lực chuyên môn cho các cơ sở y tế; triển khai các can thiệp trong việc giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong trẻ nít... Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế còn nhiều khó khăn và thách thức như: còn sự dị biệt lớn giữa các vùng miền; giữa các nhóm dân cư; một số chỉ tiêu về giảm tử vong trẻ con, giảm suy dinh dưỡng trẻ nít thể nhẹ cân đã giảm khá thấp, tốc độ giảm chậm lại nên việc tiếp tục giảm là rất khó khăn. Trong khi đó, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn ở mức cao. Tỷ số tử vong mẹ cần có sự nắm rất lớn không chỉ riêng ngành y tế, mà cần có sự phối hợp chặt chịa giữa các bộ, các ngành, các tổ chức tầng lớp, cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế thì mới có thể đạt được đích đó vào năm 2015.
Thứ trưởng y tế, PGS, TS Nguyễn Viết Tiến cho rằng, nhằm hiện thực hóa các đích thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế vào năm 2015 mà Việt Nam đã cam kết, toàn ngành cần nối khai triển một số giải pháp như: tiếp chuyện đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, trong đó chú trọng công tác truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình duyệt y mạng lưới viên chức y tế thôn, bản nhằm nâng cao nhận thức, đổi thay hành vi của người dân, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số về ích của việc khám thai định kỳ, nguy cơ của việc sinh con tại nhà không có sự trợ giúp của cán bộ y tế, về nuôi dưỡng, coi sóc trẻ lọt lòng và con nít, phát hiện sớm các dấu hiệu hiểm ở bà mẹ và trẻ em để xử trí và chuyển đến cơ sở y tế kịp thời. Tiếp tục đào tạo bà đỡ thôn, bản cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi tập quán sinh tại nhà còn phổ thông nhằm hạn chế thấp nhất tỷ lệ đàn bà khi sinh không có sự trợ giúp của nhân viên y tế đã qua đào tạo. Nhân rộng các mô hình can thiệp đã được đánh giá có hiệu quả trong việc giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em như mô hình "Chuyển tuyến dựa vào cộng đồng" tại các vùng còn nhiều khó khăn; mô hình "trông nom bà mẹ - trẻ sơ sinh liên tục từ gia đình, cộng đồng đến cơ sở y tế"; mô hình "ngôi nhà an toàn, lớp học an toàn, cộng đồng an toàn cho trẻ con"...
Bên cạnh đó, cần nối đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bổ sung nhân công và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của hàng ngũ cán bộ y tế chuyên ngành sản, nhi cho các bệnh viện huyện thuộc vùng khó khăn để triển khai được các dịch vụ mổ đẻ, truyền máu, xử trí tai biến sản khoa, hồi sức sơ sinh, chăm nom, điều trị sơ sinh nhẹ cân, non tháng và lọt lòng bệnh lý. Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế tuyến xã và đội ngũ viên chức y tế thôn, bản về đề phòng và xử trí một số bệnh thường gặp ở trẻ nít như viêm phổi, ỉa chảy... Phòng, chống tai nạn thương tích ở trẻ mỏ. Đồng thời, tăng cường tính sẵn có, chất lượng của mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa, cũng như sự tiếp cận của người dân nhằm hạn chế tình trạng có thai ngoài ý muốn, loại trừ tình trạng phá thai không an toàn và phạm pháp như bây giờ.
KHÁNH HUY